03 August 2009

IQ Test Structure

Thông thường, để lấy được chỉ số IQ chính xác nhất, người ta quy định:
1.Thực hiện với một bài kiểm tra đã được tiêu chuẩn hóa
Trong lịch sử, có rất nhiều bài kiểm tra IQ tuyen dung đã được viết ra. Chúng đi theo những tiêu chí khác nhau, vào những thời điểm khác nhau và có cách thức thực hiện khác nhau. Có thể kể ra sau đây một số bộ tiêu biểu nhất:
a. Bộ Binet-Simon
Đây là bộ trắc nghiệm IQ đầu tiên thế giới, do Alfred Binet (một nhà tâm lý học người Pháp, 1857-1911) khởi xướng. Vào năm 1905, cùng với Théodore Simon (đồng nghiệp người Pháp, 1872-1961), ông này đã chính thức cho ra đời bộ Binet-Simon Intelligence Scale (Thước đo kiểm tra trí thông minh Binet-Simon). Bộ này là cơ sở đầu tiên cho việc xây dựng những bộ trắc nghiệm trí thông minh sau này.
Trong năm 1912, thuật ngữ "intelligence quotient" – I.Q. chính thức ra đời. Nó là một ngữ được chuyển dịch từ tiếng Đức “Intelligenz-Quotient”, đặt ra bởi William Stern (nhà tâm lý học Đức).
Lưu ý: Vào lúc này, hai thuật ngữ “I.Q.” và “chỉ số thông minh” vẫn là khác nhau.
b.Bộ Stanford-Binet
Cái tên này có phần giống bên trên. Đó là vì nó được phát triển từ bộ gốc của Binet.
Năm 1916, nhà tâm lý học Mỹ Lewis Terman thuộc trường đại học Stanford đã đồng nhất việc dùng thuật ngữ I.Q. của Stern với thuật ngữ “chỉ số thông minh”.
Không những thế, ông này còn hoàn thiện bộ Binet-Simon bằng cách lọc bớt một số bài không phù hợp và thêm một số bài mới hoàn toàn. Sau này, với việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng, bộ Stanford-Binet đã trở thành nền tảng chính cho trắc nghiệm trí thông minh.
Đến nay, bộ này đã ra đời “phiên bản” thứ 5, và được thực hiện hầu như ở mọi lứa tuổi (2=>85).
Đây là hướng dẫn chi tiết về bộ này:
The test includes subtests (each test takes 5 minutes to administer, approx.):
Items Book 1 (Routing Subtests)
Items Book 2 (4 Nonverbal Subtests)
Items Book 3 (4 Verbal Subtests)
The test measures 5 areas:
1. Fluid Reasoning (includes objects, matrices, verbal absurdities, analogies)
2. Knowledge (Procedural knowledge, picture absurdities, vocabulary)
3. Quantitative Reasoning
4. Visual-Spatial Processing (patterns, position and direction)
5. Working Memory -- ability to compare verbal and nonverbal (delayed
response, block span, memory for sentences, last word)
How the test works: You start with Book 1 (Routing Subtests). The Book 1 level you start at is determined by your age and/or ability level. There are 6 levels. As you can see by the subtest title "Routing" Subtests, your proficiency on this first test will determine which level you will be "routed" to in Items Book 2 (Nonverbal Subtests) and your proficiency on Book 2 will determine which level you will use in the Items Book 3 (Verbal Subtests). The Book 2 and 3 subtest (8 in all) results are then measured.
*You must be qualified to purchase the test by signing a Test Purchaser Qualification Form which asks about specific schooling levels, your major and professional licenses, etc
c.Tập hợp các tác phẩm của David Wechler
Năm 1939, David Wechler xuất bản bộ kiểm tra IQ đầu tiên của mình: Wechsler Adult Intelligence Scale, WAIS-Thước đo trí thông minh cho người lớn. Sau đó, ông này tiếp tục cho ra đời bộ Wechsler Intelligence Scale for Children, WISC-Thước đo trí thông minh của trẻ em. Hai bộ này hiện được áp dụng đại trà nhất trên toàn thế giới, đặc biệt là bộ WAIS-III và bộ WISC-IV.
Một số đặc điểm của loại hình kiểm tra trí tuệ Wechler là:
-Bao gồm cả trí thông minh về “khả năng ngôn ngữ” và “khả năng trình diễn” (kỹ thuật, thể thao, hát múa..) chứ không chỉ phụ thuộc vào khả năng ngôn từ như bộ của Binet.
-Ngoài ra, đây là lần đầu tiên, việc đo chỉ số thông minh dựa nhiều vào một tiêu chuẩn chung, không gây nhiều “sai số” với những độ tuổi khác nhau.
Công thức có thể thấy:
Tuy nhiên, việc sai số lớn khi độ tuổi của người thực hiện càng lớn là không tránh khỏi. Điều này có thể thấy rõ khi nhìn vào công thức. Càng lớn tuổi thì tuổi sinh học càng lớn, trong khi tuổi trí tuệ không thể tăng lên mức tương ứng, dẫn đến IQ càng ngày càng giảm (mặc dù độ thông minh thật sự thì không đổi và có thể còn tăng). Do đó, người ta đã phải quy định một chuẩn trung bình là 100, hay mức thông minh trung bình của xã hội, để làm mức gốc giúp đánh giá IQ.
Ví dụ, một đứa trẻ 15 tuổi làm được 100% bài kiểm tra IQ cho lứa tuổi của mình, thì cậu ta có IQ là 100, mức trung bình phổ thông. Sau đó, cho cậu ta làm tiếp các bài của lứa tuổi 16, 17. Giả sử, cậu ta lại hoàn thành 100% bài của tuổi 16, lúc đó IQ của cậu ta đã vào khoảng 110. Nếu ở bài của tuổi 17, cậu ta không vượt qua hết mà dừng ở một mức độ 90% thì người ta sẽ xác định tuổi trí tuệ của cậu ta là vào khoảng 16,8; nên IQ của cậu này có thể là 100*16,8 /15= ..
Marilyn vos Savant much beyond IQ 130
Since the publication of the WAIS, almost all intelligence scales have adopted the normal distribution method of scoring. The use of the normal distribution scoring method makes the term "intelligence quotient" an inaccurate description of the intelligence measurement, but I.Q. still enjoys colloquial usage, and is used to describe all of the intelligence scales currently in use.